BỆNH ĐÁI THÁO ĐƯỜNG VÀ PHẪU THUẬT BSCKII. Dương Vĩnh Linh

Share!

BỆNH ĐÁI THÁO ĐƯỜNG VÀ PHẪU THUẬT
BSCKII. Dương Vĩnh Linh
Nhiều nghiên cứu cho thấy người mắc bệnh đái tháo đường (ĐTĐ)có nhiều biến chứng thậm chí có thể tử vong trong và sau cuộc mổ.
Bệnh viện CTCH-PTTH Huế đã phẫu thuật cho gần 3.000 trường hợp/năm, trong đó có Bệnh nhân ĐTĐ được mổ về xương, khớp. Thời gian để ổn định đường máu trước mổ trung bình từ 1-3 ngày và nằm viện sau mổ trung bình từ 07-14 ngày. Tất cả vết mổ đều lành tốt và không có tai biến.
Những phẫu thuật xương khớp có thể thực hiện ở người bệnh (NB) lớn tuổi có mắc bệnh ĐTĐ tại Bệnh viện CTCH-PTTH Huế
Thay khớp háng, khớp gối toàn phần hay bán phần.
Kết hợp xương để điều trị gãy xương.
Thoát vị đĩa đệm cột sống, gãy đốt sống,…
Mục đích duy trì mức glucose máu trong phẫu thuật
Giữ cho lượng glucose máu ở mức sinh lý hoặc gần như sinh lý trong suốt quá trình phẫu thuật và giai đoạn hậu phẫu, không đế tình trạng hạ glucose máu hoặc tăng glucose máu (> 15 mmol/l) xảy ra. Đặc biệt tránh hạ glucose máu trong quá trình gây mê là việc làm không dễ dàng.
Không thể để xảy ra tình trạng nhiễm toan ceton.
Ngăn không để xảy ra rối loạn chuyển hóa lipd và protid.
Không để xảy ra rối loạn điện giải đặc biệt mất kali, magiê, phosphat.
Những thay đổi về chuyển hóa của người bệnh khi phẫu thuật
Rất nhiều những thay đổi về chuyển hóa, về tình trạng thăng bằng nội môi đã xảy ra ở người bệnh; thường là do:
Tình trạng thiếu ăn xảy ra trước và sau phẫu thuật.
Những thay đổi về hormon ảnh hưởng đến chuyển hóa protein.
Nồng độ glucose máu ở mức nào thì phù hợp?
Lý tưởng nhất là nồng độ glucose máu cần được duy trì ở mức gần như bình thường. Song đây lại cũng là yếu tố nguy cơ cận kể dễ gây hạ glucose máu.
Nhiều nghiên cứu thấy rằng nồng độ đường huyết tương thường từ 5,6 mmol/l đến 13,9 mmol/l (100 – 250mg/dl) là tương đối thích hợp cho cuộc phẫu thuật; song cũng có nhiều ý kiến cho rằng sẽ là tốt hơn, nếu hàm lượng đường từ 5,6mmol/l đến 10,0 mmol/l (100 – 180mg/dl) sẽ phù hợp cho những cuộc mổ phiên, có thời gian chuẩn bị chu đáo.
Để đảm bảo cho phẫu thuật an toàn người bệnh cần phải nhập viện trước từ 48 – 72 giờ để kiểm tra nhiều thông tin cần thiết cho cuộc mổ.
Mục đích của quản lý glucose máu ở NB ĐTĐ cần phẫu thuật là tránh gây hạ glucose máu hoặc tăng glucose máu. Để giải quyết vấn đề này cần điều hoà hai quá trình: Dinh dưỡng (qua ăn, uống và/hoặc truyền dịch) và liều lượng, cách sử dụng insulin để chuyển hóa lượng glucose máu hợp lý cho phẫu thuật thường là từ 5,6 mmol/l đến 13,9 mmol/l (100 – 250mg/dl).
Những khó khăn của bệnh nhân ĐTĐ phẫu thuật
Tiểu đường phẫu thuật khác với NB bình thường vì bệnh nhân ĐTĐ khi phải làm phẫu thuật, họ thường gặp phải những khó khăn trước, trong và sau khi phẫu thuật. Những khó khăn này nếu không được lưu ý và khắc phục có thể ảnh hưởng trực tiếp tới tính mạng NB.
Những khó khăn gặp phải của NB ĐTĐ phẫu thuật
1. Giảm đường huyết ở mức thấp
Người bệnh bình thường trước khi mổ đều phải nhịn đói từ 8- 12h trước khi phẫu thuật, với người bình thường thì việc này không quá quan trọng nhưng với bệnh nhân tiểu đường nó có thể làm đường huyết trong máu người bệnh bị giảm quá thấp, ảnh hưởng tới tính mạng bệnh nhân.
Lúc này các nhân viên y tế phải thường xuyên theo dõi lượng đường có trong máu của bệnh nhân và điều chỉnh nó bằng cách tiêm insulin tĩnh mạch cho bệnh nhân, tránh không để đường trong máu giảm quá mức, nguy hiểm tới tính mạng người bệnh.
2. Khả năng chịu đựng gây mê
Bệnh nhân ĐTĐ phải thường xuyên sử dụng thuốc để điều trị và phòng ngừa biến chứng, những thuốc này có thể làm bệnh nhân tiểu đường phản ứng không tốt với thuốc gây mê, nguy hiểm cho người bệnh trong quá trình phẫu thuật.
Vì vậy các bác sĩ thường khuyến cáo bệnh nhân ĐTĐ khi được chỉ định phẫu thuật nên dừng dùng các loại thuốc hỗ trợ bệnh từ 1 tuần trở lên.
3. Rối loạn đông máu
Lượng đường trong máu không ổn định là nguyên nhân của rối loạn đông máu, gây khó khăn trong việc cầm máu cho bệnh nhân ĐTĐ phẫu thuật. Vì vậy, trước khi mổ bệnh nhân tiểu đường sẽ được kiểm tra đông máu và điều chỉnh đông máu để không nguy hiểm trong quá trình phẫu thuật.
4. Nguy cơ nhiễm trùng
Bệnh nhân ĐTĐ bị suy giảm một phần hệ thống miễn dịch, nguy cơ nhiễm trùng tăng cao hơn cũng là một khó khăn của tiểu đường phẫu thuật. Vì vậy bệnh nhân ĐTĐ khi phẫu thuật thường phải nằm viên lâu hơn, sử dụng kháng sinh nhiều hơn những bệnh nhân bình thường.
5. Khả năng liền sẹo
Vì bệnh nhân tiểu đường dễ bị nhiễm trùng hơn đi kèm với việc vận chuyển dinh dưỡng nuôi vết mổ gặp khó khăn nên vết mổ dễ bị hoại tử và thời gian liền sẹo sẽ kéo dài hơn người bình thường. Vì vậy các nhân viên y tế sẽ có phương pháp điều trị ổn định đường huyết trong máu để vết thương nhanh lành và hạn chế để lại sẹo cho vết mổ.
Lúc này việc chăm sóc vết thương cho bệnh nhân tiểu đường cũng rất quan trọng, nó quyết định khả năng lành vết mổ, tránh nhiễm trùng và hoại tử vết mổ.

 

Add Comment